12 ngày ở UK

“Sang châu Âu nhất định phải đi nước Anh” – Đó là thứ tôi nghĩ ngay đến trong đầu khi chuẩn bị cho chuyến đi du học của mình. Tôi muốn đến một đất nước nói tiếng Anh xem sao, muốn xem cái khá niệm “quý tộc” của người Anh, muốn tìm hiểu về sự khác biệt mà người ta hay nói: nước Anh khác nhiều so với trong lục địa châu Âu.

Và chuyến đi 12 ngày vòng quanh nước Anh mang lại cho tôi nhiều trải nghiệm hơn những gì tôi mong đợi. Tôi lên kế hoạch trước cả nửa năm để xin visa và tiết kiệm tiền. Sau gần 2 năm đi nhiều nước ở châu Âu lục địa, tôi có một cái nhìn toàn diện về châu Âu, vừa đủ để chuẩn bị xem nước Anh và châu Âu lục địa giống khác ra sao.

2015-07-29-14-57-49-hdr

Ngồi trên phà từ Pháp sang Anh, hòn đảo lớn Anh Quốc dần hiện ra với bao sự háo hức. Mọi thứ biển báo ở đây hoàn toàn bằng tiếng Anh, ngôn ngữ tôi hiểu được thay vì tiếng Pháp hay tiếng Hà Lan như ở Bỉ. Và trên bus vào trong London, tôi bị mê hoặc bởi những ngôi nhà nhỏ cổ kính nằm dọc hai bên đường. Những ngôi nhà đó dường như cùng được xây bởi một người, nên giống hệt nhau, tạo nên một con phố đồng nhất từ nhà đến hàng cây. Và xa xa kia, tháp Big Ben dần hiện ra. Cảm giác nhìn thấy ngọn tháp biểu tượng cho London thật khó tả, giống y hệt khi tôi ngồi trên tàu vào trung tâm Paris lần đầu tiên, thấp thoáng bóng dáng của tháp Eiffel. Lúc đó chỉ biết thốt lên: Cuối cùng cũng đã đến rồi. Khoảnh khắc đánh dấu cho mỗi chuyến đi của tôi.

 

2015-07-30 10.56.37.jpg

Panorama một ngày nhiều mây

London đông đúc, tấp nập và náo nhiệt. Tôi bị choáng một chút khi liên tục hòa vào dòng người đi cả trên đường phố và dưới Underground. Underground ở London có lẽ là tấp nập nhất, phần nào hơn cả Paris. Một điều thú vị khi quan sát người dân đi trên phố là street style của họ rất đẹp và ấn tượng. Nhất là những người đi làm, họ mặc vừa thoải mái vừa đẹp, đúng một trong 4 kinh đô thời trang của thế giới. Nói về tiếng Anh thì tôi bắt đầu nhận ra sự dở tệ của mình khi bắt đầu nói chuyện với họ. Cũng mất nửa ngày để tôi quen với accent Anh Anh. 3 ngày ở London, tôi cày nát những con đường vì đi bộ mỗi ngày trên dưới 10 km. Từ những địa điểm rất là touristic như Big Ben, London Bridge, Tower Bridge, Buckingham Palace (xem đổi gác), nhà ga 9 3/4 trong truyện Harry Porter, rồi lạc trong khu mua sắm ăn chơi Soho. Sau đó là một ngày dành trọn cho Bảo tàng lịch sử tự nhiên (vì bộ film yêu thích Night at museum) và Bảo tàng tượng sáp Madame Tussauds. Cũng không thể bỏ qua kinh tuyến số 0 ở Greenwich cũng như ghé thăm Đại học Greenwich ngay gần đó. Mọi thứ ở London thật sự rất là đáng để đi. 3 ngày là quá ít để khám phá trọn vẹn London dù sáng nào cũng 9h là ra khỏi hostel và tối 10h mới mò về.

DSC_0758.jpg

Kinh tuyến số 0 Greenwich

DSC_0964.jpg

Tower Bridge

DSC_1104.jpg

King Cross Station

Photo 01-08-2015 8 47 14 pm.jpg

Haggis và Whisky, hai thứ nhất định phải thử khi tới Edinburgh

Bắt chuyến tàu từ ga King Cross, tôi tiếp tục chuyến đi tới Edinburgh, thủ đô của Scotland. Một điều thú vị khi đi tàu là quan sát hai bên đường suốt chặng đường 5 tiếng từ London đến Edinburgh. Nếu như ở England hai bên đường có vẻ hoang sơ tiêu điều thì vào đến địa phận của Scotland, cảnh vật tươi tắn hơn, đồng ruộng cây cối nhiều hơn. Và Edinburgh chào tôi với một hình ảnh không thể cổ kính hơn. Tôi từng choáng ngợp với sự cổ kính ở Prague hay Budapest nhưng chưa là gì với Edinburgh. Một màu xám thời gian phủ lên thành phố. Edinburgh lạnh (chết rét), gió ( muốn bay luôn) và mưa (buốt) nhiều hơn London. Nhưng Edinburgh hiền hòa, chậm rãi, từ tốn hơn London. Tôi không còn phải chen chúc ngộp thở đi lại trên đường. Không thể không yêu thành phố này được. Edinburgh không quá rộng nên hoàn toàn có thể đi bộ để khám phá. Điều tôi thích nhất ở Edinburgh là leo lên Calton Hill để ngắm toàn cảnh thành phố, và còn tuyệt hơn nữa khi leo lên Authur’s Seat. Leo lên đây mệt muốn đứt hơi nhưng rất đáng vì nhìn từ đây ngắm trọn vẹn các phía của Edinburgh. Đã đến Edinburgh thì không thể không làm một chuyến đi Highland để tìm hiểu về em quái vật dễ thuơng Nessie ở hồ Ness (Loch Ness). Tưởng chừng chuyến đi sẽ thú vị thì đó là một hôm vừa mưa vừa rét vừa gió. Cũng vớt lại được khoảng 10ph bỗng dưng trời nắng đẹp đủ để soi xem Nessie có xuất hiện không. Một điều thú vị nữa là nghe tiếng Anh Scotish khó hơn cả tiếng Anh Anh, nhưng các bạn ở đây thấy người nước ngoài là tự động đổi lại accent để dễ nghe hơn. Ba ngày ở Edinburgh trôi qua quá nhanh.

DSC_1158.jpg

Nhìn từ Calton Hill

DSC_1353.jpg

Nhìn từ Authur’s Seat

DSC_1165.jpg

Edinburgh cổ kính

DSC_1215.jpg

Màu xám thời gian phủ lên Edinburgh

DSC_1243.jpg

Loch Ness mà không thấy Nessie

DSC_1225.jpg

Highland – “đặc sản của Scotland”

 

DSC_1409.jpg

Con phố trung tâm ở Cardiff

Từ Edinburgh, tôi đáp chuyến bay tiếp theo về Cardiff, thủ đô của xứ Wales. Rất tiếc là chuyến đi này tôi không thể đến Belfast, thủ đô của Bắc Ailen. Cardiff không phải là một thành phố lớn hay nổi tiếng về du lịch, tuy nhiên nó nằm trong mục tiêu đi 4 thủ đô của nước Anh nên tôi lên kế hoạch tới đó. Ba ngày ở Cardiff giống như một chặng nghỉ sau gần một tuần “chân đi đến lúc mỏi”. Tôi không đặt kì vọng quá nhiều ở đây nhưng Cardiff lại chính là nơi khiến tôi lưu luyến nhất lúc rời đi. Một thành phố cảng bình yên, rất hiếm khách du lịch (đặc biệt không thấy dân du lịch Chi-noa). Vậy nên tôi sẽ được mọi người chú ý khi cứ đi lang thang cầm máy ảnh chụp choẹt. Hostel ở Cardiff cũng là hostel yêu thích của tôi bởi sự thân thiện, gần gũi như hostel ở Lisboa. Đến Cardiff hãy thả mình đi dạo quanh Cardiff Castle, khám phá Cardiff University  hay ngồi làm ly cafe hít hà gió biển ở Cardiff Bay. Và hãy dành ra nửa ngày khám phá Bảo tàng lịch sử tự nhiên Cardiff để biết về lịch sử phát triển ở xứ Wales. Trong một chiều đi lạc đường, tôi ghé một quán Kebab để ăn tối. Lần đầu tiên ăn một đĩa Kebab ngon đến vậy dù đây không phải là món ăn ưa thích của tôi. Rất tiếc là tôi không kịp trở lại sau đó để ăn thêm lần nữa. Cardiff mang đến cho tôi đúng khoảng thời gian cần thiết để nghỉ ngơi và lấy lại sức để cho chặng cuối của chuyến đi. Đây là kinh nghiệm để lên kế hoạch cho những chuyến đi dài ngày.

DSC_1435.jpg

Có vẻ ai cũng thích ngắm cảnh ở Cardiff Bay

Từ Cardiff, tôi đành bỏ qua Bath, nơi nổi tiếng với những tảng đá Stonehenge để quay trở về London phố thị, đi thêm một tiếng tàu về miền quê Milton Keys. Trên một chuyến bus ở Milton Keys, lần đầu tiên trong đời tôi nghe một cô chỉ đường cho tôi mà nói suốt mấy phút trong khi tôi chỉ bắt kịp được không quá 10 từ. Còn lại như đang nghe tiếng Pháp hay tiếng Hà Lan. Hình như đó là tiếng Anh ở vùng nông thôn. Từ giọng điệu, nói tắt, nói nhanh đều khác hoàn toàn với những accent tôi từng được nghe. Đến cuối chuyến đi rồi vẫn còn bị shock bởi ngôn ngữ. Tôi đến Milton Keys thăm anh chị bạn chơi thân, và từ đó tiếp tục chặng cuối cùng: Cambridge – đất học xứ Ăng-lê. Nếu ở Bỉ có đất học Leuven thì ở Cambridge cũng là một trong những đất học như vậy. Cambrigde gồm rất nhiều các truờng đại học con bên trong, mỗi trường đại học, không khác gì những toà cung điện cả. Cổ kính, uy nghiêm, tráng lệ với lịch sử và truyền thống lâu đời. Ngồi trên thuyền đi dọc sông Cam, lắng nghe anh hướng dẫn viên giới thiệu về từng trường Đại học là một điều nên thử khi tới đây. Dù đây có là đất học nhưng địa điểm giải trí cũng rất là nhiều, theo đúng tinh thần: học ra học và chơi ra chơi.

DSC_1608.jpg

St John’s College School, từ thế kỉ 17, nằm trong Đại học Cambridge

DSC_1485.jpg

Du thuyền trên sông Cam

 

DSC_1790.jpg

Bà cụ bên cánh đồng hoa oải hương ở Mayfield

Tôi quay lại London để từ đó về Brussels. Tuy nhiên không thể bỏ qua một nơi ở ngoại ô London: Mayfield với cánh đồng hoa oải hương. Coi như thỏa uớc nguyện đến ngắm cánh đồng hoa oải hương tím ngắt thay vì tới Provence.

 

Chiều muộn, hoàng hôn, ngồi bên bờ sông Thames, ngay đối diện trước mặt là vòng quay London Eye, tôi tận hưởng nốt khoảng thời gian ít ỏi còn lại.

DSC_1828.jpg

Nước Anh khác hoàn toàn với châu Âu lục địa, và bản thân England, Scotland và xứ Wales cũng rất khác nhau nữa. Càng đi càng thấy bản thân muốn quay lại những nơi này vì còn quá nhiều điều chưa khám phá hết.

London – Edinburgh – Cardiff – Milton Keys – Cambridge

8.2015

PS: Bài viết này nằm trong thư mục Nháp đã gần 2 năm rồi, cuối cùng vẫn phải hoàn thành vì đã lỡ hứa với thằng bạn là sẽ viết một bài sau chuyến đi.

Và cũng muốn hoàn thành bài viết này để tặng một người bạn, hy vọng nó là động lực để sẵn sàng bước ra thế giới bên ngoài kia.

Hai mùa Giáng sinh

Đêm Giáng sinh ở Bruges, dù vắng lặng vẫn đẹp bất ngờ
Mùa Giáng sinh đầu tiên, năm 2013. Đợt giáng sinh năm đó, bạn tôi từ các nước qua Bỉ đón Giáng sinh. Ngày 24, chúng tôi đi thăm Bruges, thành phố được mệnh danh là Venice của phương Bắc. Một thành phố cổ kính, đẹp và bình yên. Thật đáng tiếc là hôm đó lại là một ngày mưa gió rét cuốn hết tất cả vẻ đẹp đó đi. Ban ngày thì Bruges vẫn còn đông đúc, nhưng từ chiều đến tối là các cửa hàng đóng cửa hết. Vì đêm nay là đêm Giáng sinh mà. Tôi nhớ cái cảnh vắng lặng của Bruges lúc chúng tôi đi bộ ra ga tàu để về. Một vài ngôi nhà sáng đèn, ánh đèn lấp lánh trang trí của cây thông phản chiếu trên những tấm rèm cửa. Bên trong đó có lẽ các gia đình đang cùng nhau thưởng thức bữa tối sum họp đông đủ. Về đến Brussels, Grand Place vốn lúc nào cũng đông đúc nhộn nhịp thì hôm nay chỉ có đa phần là khách du lịch. Và sự vắng lặng này thể hiện rõ hơn ở khu Flagey nhà tôi. Đêm 24 và cả sáng ngày 25, tôi được tận hưởng chính xác sự vắng lặng như thể sáng mùng 1 Tết ở nhà vậy.
Mùa Giáng sinh thứ hai, năm 2014. Năm đó tôi không đón Giáng sinh ở Bỉ mà lên đường đi một vòng mấy nước, trong đó đón Giáng sinh ở Vienna của Áo. Cũng lại là chiều tối ngày 24, sau một ngày đi chơi mệt nhoài, chúng tôi đi tìm hàng ăn tối quanh hostel nhưng rồi chợt nhận ra hàng quán đóng hết, siêu thị đóng, ngay đến đồ ăn nhanh cũng đóng gần hết. Lạnh, đói, mỏi chân, chúng tôi ngồi xem lại bản đồ xem gần đó có khu nào gần hostel khả dĩ cho việc ăn uống không. Rồi sau một hồi tìm kiếm, cả hội tìm thấy một cái kios nhỏ xíu bán bánh mì xúc xích và khoai tây chiên. Thêm một lon Coke nữa, vậy là chúng tôi có bữa tối Giáng sinh đáng nhớ ở Vienna. Đường sá lúc đó vắng lặng, mọi người rảo bước về nhà, xe cộ cũng ít hơn dù đêm trước đó, các chợ Giáng sinh vô cùng tấp nập và đông đúc. Sáng ngày 25, một ngày nắng đẹp cho việc đi tham quan mấy cung điện ở Vienna, nhưng không phải cái nào cũng mở cửa vì là ngày nghỉ Giáng sinh. Đường phố cũng thưa thớt hơn, cửa hàng đóng cửa hết, gợi lại đúng hình ảnh Flagey năm trước đó.
Và mùa Giáng sinh năm nay, 2015. Tôi ngồi ở công ty đến 7h, nghĩ bảo chờ thêm một lát rồi về cho đỡ tắc đường, thì chợt nhận ra về muộn một tí thì càng tắc vì lúc đó mọi người bắt đầu đổ dồn ra đường đi chơi Giáng sinh. Thế là nhanh chóng dọn đồ để về. Và bị tắc, nhưng ơn giời là không tắc lâu.
Giáng sinh, ở châu Âu, là dịp đoàn tụ gia đình, dịp mọi người đến thăm nhau, cùng nhau thưởng thức bữa tối và trò chuyện đến đêm. Ngoài đường chỉ có những người hối hả về cho kịp gặp gia đình hay những người lữ khách lang thang như chúng tôi năm nào.
Giáng sinh, theo cách hiểu đó ở Việt Nam có lẽ là dịp 30 Tết âm lịch, thời điểm để mọi người cùng nhau nhìn lại một năm đã qua, bỏ qua những điều chưa hài lòng để đón chào năm mới.
Tuy nhiên có một điều chung là đêm giao thừa, mọi người đổ dồn ra đường để xem pháo hoa và tất nhiên, Brussels hay Hà Nội đều tắc đường chết luôn.

Merry Christmas!

[Me and Brussels] Chuyện ăn uống

Ratatouille - Thử làm món này sau khi xem phim Ratatouille

Đã kết thúc chuỗi bài viết Me and Brussels với The last post rồi, vì lúc đó tôi thấy rằng nên khép lại để bắt đầu ý tưởng mới, nhất là khi đó còn đang trong cảnh khủng hoảng vì nhớ châu Âu. Rồi tôi đọc những dòng viết của Minh Nhật trong “Chúng ta rồi sẽ ổn cả thôi”, cuốn mình vào công việc khiến suy nghĩ của tôi trở nên thông suốt hơn. Vì thế nên tôi nhận ra còn nhiều chủ đề trong Me and Brussels đang dang dở, cần được tiếp tục trước khi đóng nó lại.

Chuyện ăn uống là một thứ không thể không viết vì đó là cách tôi xoa dịu cái dạ dày và xoa dịu nỗi nhớ nhà, nhớ Hà Nội. Viết về nó thì có quá nhiều thứ nên chủ đề này lúc nào cũng trong tình trạng dang dở. Vì,

Chuyện ăn uống ở xứ người nhiều cái thú vị lắm.

Năm nhất tôi ở cùng cậu bạn cũng có tinh thần biết ăn biết làm. Sau một vài tuần làm quen với chợ xứ người, thì hai thằng hì hục nửa đêm ướp thịt, nướng thịt quay. Mẻ thịt quay đầu tiên ra lò, theo công thức trên mạng, được hai thằng đánh giá là ngon tuyệt. Lúc đó thử làm chứ không nghĩ là nó ra vị chuẩn vậy. Sau này thì còn làm bắp bò luộc, để rồi nửa đêm hai thằng ngồi học không cầm lòng trước nước bò luộc thơm mùi sả, gừng lại đi làm bát mì bò. Tiếp đó còn làm thịt đông, ăn cũng ngon dữ dội. Dần dần cũng mày mò làm mấy món bún, phở gà bò thịt nướng các kiểu. Đó là lý do mà chúng tôi có câu tuyên ngôn: sang đây không học được thì ít ra cũng phải ăn được.

Thêm vào đó là hội 5 anh chị em, toàn thành phần ăn ngon mà lại kĩ tính nên nhiều lúc bày vẽ ra các kiểu. Đáng nhớ nhất trong các kiểu bày vẽ này là món bánh trôi bánh chay mà tôi với mợ Tuyết đánh vật 4 tiếng đồng hồ từ 6h tối đến 10h tối. Không thể ngờ cái món đó chỉ riêng nhào bột với nặn bột thôi cũng tốn thời gian đến vậy. Qua không biết bao nhiêu vụ ăn uống lớn nhỏ, tôi luôn chọn vị trí bếp trưởng … để tránh phải dọn dẹp và rửa bát.

Qua năm hai thì cái sự ăn uống nó nâng lên một tầm cao mới khi xuất hiện một hội mang cái tên rất kêu BBB (bê-bê-bê) nhưng ý nghĩa đậm mùi xôi thịt “Bún Bò Brussels”. Tại Brussels, có một nhóm quyết định lập ra vì mục đích ăn uống tụ tập và món ăn khơi nguồn thành lập là Bún Bò Huế. Sau Bún bò thì đến một loại món Huế ra mắt, rồi thì phở gà, nem rán cũng được thực hiện. Nhưng đáng nhớ nhất có khi là nồi cháo gà bà Hường, mà có lẽ nó trở thành truyền thuyết: “khi ốm thì đừng có gọi hội này”. Sự tình là bạn tôi, Hường, bị ốm nên cả hội qua thăm. Thế mà cuối cùng gà Hường mua, cháo Hường nấu, cả hội quay ra xâu xé con gà ăn, để cho Hường ngồi nhìn cười (tự khỏi ốm). Hội còn có chef, là người thích nấu ăn, nhất là các món Huế. Được ăn mấy món này ở xứ người thì đúng là vừa lấp đầy dạ dày mà lấp luôn sự thèm đồ ăn Việt.

Quay lại câu chuyện đồ ăn, thì ở xứ người, muốn ăn đồ Việt thì chỉ có ra quán, nhưng muốn ăn ngon theo ý mình thì chỉ có tự làm. Thế nên có những đêm đọc sách, đọc đúng quyển Món ngon Hà Nội, đọc từng dòng miêu tả sự thanh ngọt của nước dùng món phở bò, phở gà, bún bung mà ngày hôm sau chỉ nghĩ tới việc ra siêu thị mua con gà về làm nồi phở ăn. Thèm nhiều thì lại làm nhiều, làm nhiều thì trình cũng lên. Ngày xưa thì biết hết nguyên liệu làm mấy món này, nhưng giờ mới làm thực tế, mà lại còn sáng tạo theo kiểu mang mì spagetti ra dùng thay bún vì nhà hết bún.

Các món theo kiểu Tây thì qua năm hai, ăn trưa ở trường nhiều nên tôi cũng để ý và bắt đầu mày mò nghiên cứu làm theo. Làm thử thôi chứ chủ yếu tôi vẫn thèm ăn đồ Việt. Mà cũng chưa nghĩ đến việc thèm ăn phở thì chủ nhật bắt bus sang Paris ăn rồi về lại Brussels trong ngày.

Ở Brussels may mắn là thứ gì cũng có hoặc tìm được, nguyên liệu đa phần đều có bán nên đồ đủ cả, chỉ thiếu mỗi người làm. Chuyện ăn uống ở xứ người cũng khá đa dạng. Có người ăn uống đơn giản, có người ăn theo đồ ăn của tụi Tây, còn tôi là thành phần thèm đồ Việt nên thích bày vẽ. Nếu xét về độ ngon so với ở Việt Nam thì chắc không bằng, nhưng cái cảm giác ngồi xì xụp bát bún hay bát phở tự làm, bên cạnh bạn bè giữa xứ người đáng giá hơn cả.

Có khi chẳng phải ăn uống gì hoành tráng, chỉ là một bữa cơm bình thường, nhưng có người ngồi ăn cùng, nói chuyện (tiếng Việt) cùng lại là điều không thể quên. Tôi nhớ những bữa tối muộn ở nhà mợ Tuyết, sau một ngày đánh vật với luận văn thì ăn chẳng được bao nhiêu, có người nói chuyện cho bớt mệt. Ngược đời vậy đó nhưng nó là có thật.

Nửa đêm ngồi nghĩ về siêu thị Colruyt, Carrefour và Delhaize và cả Abatoir Clemenceaux. Một góc văn hóa ăn uống của dân du học sinh xứ Brussels.

Chặng đường mới

Trích "Chúng ta rồi sẽ ổn thôi", phần Minh Nhật.

Đã 8 tuần, tròn 2 tháng từ ngày rời xứ Bỉ về lại Hà Nội. Những tuần đầu tiên tôi nhớ Brussels, nhớ Bỉ, nhớ châu Âu kinh khủng. Trước khi về tôi có 3 tháng đi du lịch, trải nghiệm, sống như lời bạn tôi nói: Em coi đây là khoảng thời gian còn lại ở châu Âu, làm mọi thứ em muốn đi. Vì vậy việc thích nghi lại càng trở nên khó khăn hơn, và vì tôi không muốn thích nghi lại.

Tôi cảm thấy thoải mái với sự chậm rãi, nhẹ nhàng ở châu Âu, và đau đầu với việc nói nhanh, nói nhiều, nói to và sự gấp gáp, vội vã trong cuộc sống. Việc thích nghi lại giống như là việc trở lại thời điểm của 2 năm về trước, như chưa hề có chuyến đi nào diễn ra. Tôi rơi vào trạng thái hụt hẫng vì không biết bây giờ mình sẽ làm gì tiếp cho cuộc đời mình. Có những lúc tôi chỉ muốn quay trở lại châu Âu ngay lập tức.

Đã 3 tuần từ ngày đi làm với một công việc mới. Đây là một sự chuyển hướng hoàn toàn so với công việc chuyên môn trước đây của tôi. Những trải nghiệm đầu tiên rất tích cực. Mặc dù phải rất nhanh chóng học và làm để chạy kịp cho project, tôi cảm thấy hứng thú và thách thức với công việc này. Đấy là dấu hiệu tích cực cho việc mình tìm thấy được một công việc phù hợp với năng lực của bản thân. Tôi nghĩ vậy. Điều tích cực hơn là sự bận rộn, căng thẳng và thách thức trong công việc giúp tôi biết tôi cần làm gì trong thời gian tới, bớt dần nỗi nhớ châu Âu.

Bây giờ mỗi khi xem lại đống ảnh về châu Âu thì vẫn nhớ, nhưng còn cảm giác thèm quay lại châu Âu ngay lập tức nữa. Tôi sẽ quay lại nơi đó khi có dịp.

Hai năm qua là một chặng đường rất tuyệt vời, nhưng nếu không bước tiếp trên chặng đường mới thì sẽ mãi là người của ngày hôm qua.

29.11.2015

 

[Me and Brussels] Me and Brussels, the last post

Vrije Universiteit Brussel

This is the last post in series “Me and Brussels”. The whole series tell you about my life, my experience during the time in Brussels. Some are planned, some are unexpected. After all, I did have two unforgotten years in Brussels, and now is to end this journey. The last post should be Question and Answer section that all questions are from my westen friends. The last one will be in English for my European friends who are a big part of my journey.

Q: Why do you choose Belgium?

A: It’s incident. I got the call for scholarship, I applied and got the grant. Then, I’m here, in Brussels. At first, I didn’t know much about Belgium, except famous Begian chocolate (to be honest, never tried it before), and now, I think it’s my luck to be here, to discover this amazing country.

Q: Do you love Brussels and Belgium? How do you love it?

A: A very nice city, I think. Brussels is a small, crowded and busy. The good thing, this city is multi-national and multi-cultural so I can use English in my daily life. Brussels, sometimes, looks like exactly my home city, Hanoi. It feels like in my home. I love it and gonna miss it when leaving.

I’m the tour-guide for my Vietnamese friends when they visit Brussels. After several times of guiding, I found a lot of things about Brussels from hidden places, foods, drinks to interesting stories. You see, when getting to know more about the place I’m living, I love it much more.

Unexpected story: When I told to a Belgian guy living in Flander town about my experience of tour-guiding, he did ask me to show him Brussels the next time he visit since he has been in Brussels for a few times and doesn’t know much about Brussels. It’s so cool and glad.

Q: What do you miss the most when leaving?

A: The first thing, beer. Belgian beers are absolutely great. I’ve never tried so many kinds of beers like Belgian beers. Before coming here, I heard about German beers, Czech beers. They are good, especially Czech beers, but I fall in love with Belgian beers. It’s my unexpected experience. And waffe, frites. Frites in Place Flagey, miss it so much. Brussels, and trips to other cities. I’m wanna see more about Flander and Wallonie regions, the special things of Belgium.

Q: Do you like your programme? (My Master programme in Computer Science)

A: I don’t know. It’s tough. I thought I know a little but when studying here, I know nothing. Some courses are really challenging as much as I was supposed not to complete them.The thing I learnt from my programme is to take everything seriously and do what I want. I did make something impossible become possible. It’s my stressful but valuable time.

Q: Why do you choose this major?

I didn’t give a clear answer to this question since I’m confused. Then I found several guys I met have the same problem like me. Perhaps the major selection is not only problem in Vietnamese students but happens also to some Western students, not only in Belgium. I met a Czech girl studying education wants to get a job about travelling, or a guy wants to become an artist more than an engineer.

Q: What do you do after graduation?

A: I planned to be back to my home country. However, I figured out how much I love Belgium an Europe, still many things to explore. So I’ll come back here soon.

Hanoi, 10.10.2015

Plzen và cuộc sống người Việt

Lần đầu tiên qua Plzen, co ro chết rét trước 1 cửa hàng Potraviny

Sau Brussels, Bỉ thì Plzen, Séc là nơi tôi ở nhiều nhất. 8 lần qua đây, tổng thời gian cộng lại cũng tầm 2 tháng cho tôi một khoảng thời gian đủ để hiểu hơn về thành phố, con người nơi đây.

Plzen là một trong những thành phố lớn nhất của Séc, đứng thứ 3 (hay thứ 4). Tên khác của Plzen là Pilsen, và cái tên này tạo nên thương hiệu bia nổi tiếng của Séc, Pilsener Urquell. Hầm bia nổi tiếng ở Plzen, mà theo truyện kể lại thì chỉ có nguồn nước ở vùng này mới sản xuất được loại bia như vậy.

Plzen giống như một phiên bản mini của Prague. Không quá cầu kì, không quá hoành tráng, nhưng vẫn giữ được những đặc trưng cơ bản trong kiến trúc của Prague và Séc. Và Plzen yên bình hơn, ít khách du lịch hơn, vì vậy nên khi tôi vác máy ảnh đi chụp quanh thành phố thì liên tục bắt gặp những ánh mắt hiếu kì từ người dân địa phương.

Và cũng vì đây không phải thành phố du lịch, nên rất dễ để quan sát cuộc sống thường ngày của người dân, không chỉ có dân Séc mà còn dân Việt Nam mình.

Người Séc ở đây ít nói được tiếng Anh nên rất khó cho tôi khi muốn nói chuyện với họ. Nhưng có một lần tôi lang thang vào khu trung tâm khoa học dành cho thiếu nhi thì gặp một cô bé ở quầy Info. Cô bé bảo với tôi là thích nói tiếng Anh nhưng ở đây chẳng ai nói cả, hôm đó vớ được tôi nên vui lắm, đứng giới thiệu tùm lum mọi thứ. Tôi thì mừng vì vớ được người nói tiếng Anh, cô bé đó thì mừng vì có cơ hội thực hành tiếng Anh. Cảm nhận của tôi là những người Séc địa phương ở đây rất thân thiện, họ niềm nở nói một tràng tiếng Séc mà tôi chỉ biết ano, ne (yes/no) dựa vào ngôn ngữ cơ thể của họ. Tuy nhiên Plzen có không ít người từ các nước khác đến làm việc ở các xí nghiệp, nhà xưởng nên cũng xô bồ lắm.

Về người Việt mình qua đây chủ yếu là kinh doanh, buôn bán, công nhân nhà máy, mấy năm trở lại đây thì thêm cả làm nail. Ở Séc có một đặc trưng mà các cửa hàng Potraviny, tạm dịch là các cửa hàng bách hóa. Và 99% các cửa hàng này đều do người Việt mình bán. Các cửa hàng này bán đồ ăn, đồ uống, bánh kẹo, rượu bia, hoa quả. Đó có thể coi là một siêu thị mini cho người dân mua đồ ăn hàng ngày. Ngoài ra còn những cửa hàng vải vóc, đồ điện tử, đồ gia đình, quần áo, nhà hàng ăn uống cũng do người Việt mình bán.

Trong khoảng thời gian ở đây, tôi được trực tiếp chứng kiến, lắng nghe và cảm nhận rõ rệt cuộc sống hàng ngày của người Việt mình tại Plzen. Với những người buôn bán, nhất là ở những cửa hàng Potraviny (Pot) thì hàng ngày liên tục đi lấy hàng. Nguồn hàng chính là những siêu thị lớn, những kho hàng ở cả Plzen hay lên tận chợ Sapa nổi tiếng ở Prague.

Tôi cũng được theo chân đi lấy hàng. Những lần đầu tiên đẩy những xe hàng chật vật, đúng kiểu một thằng sinh viên đầu to mắt cận chân tay chỉ phục vụ gõ máy tính giờ đẩy xe hàng cao vút, nặng chịch. Sau cỡ chục lần thì bắt đầu quen tay, rồi bốc dỡ các két bia, các thùng hàng. Thế vẫn chưa là gì so với những người tôi thấy bên này, hai tay hai xe hàng to đùng đẩy băng băng mà ngỡ tưởng họ vừa dọn sạch nửa cái siêu thị lớn. Những hôm hàng giảm giá mạnh, tôi còn được chứng kiến cảnh chạy đua để lấy hàng, bởi lẽ chỉ chậm một vài giây thôi là sẽ hụt ngay. Lúc đó mới thấy thương trường đúng là chiến trường. Chiến trường vậy, nhưng hôm nào ở đâu có hàng giảm giá là mọi người lại mách nhau ngay để đi lấy.

Tôi theo chân lên chợ Sapa, không chỉ là mua mấy đồ lẻ linh tinh, mà vào sâu hơn trong các kho hàng lớn. Chợ Sapa đúng là phiên bản Việt Nam thu nhỏ, phiên bản chợ Đồng Xuân ở xứ châu Âu luôn. Những kiện hàng lớn, những xe ô tô tải tấp nập ra vào đánh từng lô hàng lên xuống. Từ Sapa, hàng hóa được chuyển đi khắp nơi cho các cửa hàng, đầu mối lớn nhỏ.

Tôi hì hục thử bốc vác hàng hóa. Những lần đầu tiên khiêng những két bia hay các két nước mà thở phì phò. Chỉ dám gọi là bốc vác thử để biết thôi, chứ chưa là gì so với những người buôn bán bên này. Thế mới hiểu công việc vất vả như thế nào.

Tôi được lắng nghe những câu chuyện từ chính người Việt mình nơi đây. Điểm chung của những câu chuyện đó là sự đánh đổi. Người ta nói đi tây là sướng. Đúng là sướng thật, đồ ăn an toàn, ra đường cũng an toàn, y tế tốt, khí hậu trong lành, quyền con người được đảm bảo. So với cuộc sống lam lũ nơi quê nhà thì bên này tốt hơn nhiều, nhưng đánh đổi sau đó là sự vất vả, mà tôi được quan sát và cảm nhận trực tiếp. Các bác, các cô, các anh chị bên này, những người buôn bán, kinh doanh đều rất chịu khó làm việc để kiếm tiền, để có một cuộc sống tốt hơn. Để kiếm được những đồng tiền đúng là đổ mồ hôi, sôi nước mắt. Có những người, bỏ ra cả chục ngàn euro để sang được bên này, không chịu nổi sự vất vả, đành bỏ về hoặc tệ hơn là sa vào những tệ nạn nơi đây. Những câu chuyện đó vẽ nên một mảng màu mới trong vốn hiểu biết ít ỏi của tôi, cho tôi nhìn và hiểu nhiều hơn về cuộc sống. Vì vậy, ai cũng cố gắng kiếm tiền để đầu tư cho con cháu mình học hành tốt hơn, để không vất vả như các bậc cha chú. Dù ở tây hay ta, kiếm được đồng tiền chân chính đâu có đơn giản dù cho là trí óc hay sức lực. Mà với những người làm kinh doanh buôn bán, sức lực đâu có đủ, còn cần cả sự nhanh nhạy, tính toán các kiểu. Một thằng học đến bậc thạc sĩ như tôi mà trông không khác gì con bò đeo nơ khi cố gắng bắt kịp những câu chuyện buôn bán, kinh doanh bên này.

Những gì tôi viết trên đây vẫn chưa đủ để miêu tả hết cuộc sống của người Việt ở Plzen và ở Séc nói chung. Trăm nghe không bằng một thấy, trăm thấy không bằng một thử. Nghe kể về sự vất vả thì có khi nhiều người vẫn úi xùi chuyện nhỏ ấy mà, nhưng khi nhìn thấy rồi, làm thử rồi mới hiểu rõ hơn về họ. Hai năm ở đây, ngoài thời gian sống theo xờ tai trí thức ở Bỉ, tôi may mắn được sống cùng cuộc sống người Việt ở Séc để mở rộng được sự hiểu biết của mình.

Đi đi khi có thể

19.09.2015

Tròn 2 năm đặt chân đến châu Âu

Đêm cuối ở Plzen trước khi về Việt Nam

[Me and Brussels] Sẽ không còn nữa – Trở về

Lần đầu tiên thấy tuyết rơi

Có một nơi tôi gọi là nhà, có những người tôi gọi là gia đình. Đó là ở Brussels. Hôm qua là đám cưới chị gái và cũng chào tạm biệt chị luôn, hôm nay chào hai anh em thân thiết về Việt Nam trước mới chợt thấy hụt hẫng. Đó là những người thân thiết của tôi ở châu Âu. Những khoảng thời gian chúng tôi bên nhau, và cả khoảng thời gian học ở xứ Bỉ hai năm qua sẽ chỉ còn là kỉ niệm. Hai tuần nữa, tôi cũng sẽ về Việt Nam, và sẽ không thể có lại những khoảnh khắc như hai năm đã qua nữa.

Đó là gia đình hai bác Nguyệt Dưỡng cùng hai em Nguyệt Linh và Dương Anh. Hai năm tôi ở đây cùng gia đình bác, được cả nhà coi như con cháu trong nhà. Tôi nghe kể chuyện nhiều bạn sinh viên bên này thuê nhà bên này bị làm khó này nọ kể cả chủ nhà tây hay ta, tôi chỉ nghĩ mình quá may mắn khi gặp được gia đình hai bác. Cả nhà đối xử với tôi rất tốt, giúp đỡ tôi mọi thứ, chỉ bảo cho tôi nhiều điều. Tôi sẽ nhớ lắm căn phòng ở tầng hầm này, những bữa cơm cùng gia đình, những câu chuyện hai bác kể, những lúc chơi với hai em. Vì những điều nhỏ nhỏ này mà tôi gần như không cảm thấy nhớ nhà, vì gia đình hai bác giống như người thân, gia đình với tôi.

Đó là những bữa cơm đạm bạc, vội vàng chuẩn bị của Tuyết, chị gái yêu quý, mỗi khi tôi gọi điện kêu chị ơi em qua nhé. Lần nào qua nhà cũng được chị gái mời ăn uống, rồi ngồi kể mọi thứ chuyện vui buồn stress. Những ngày tôi làm thesis, mệt mỏi không muốn nấu ăn gì nữa, thì ới chị gái là được bát cơm luôn. Ăn uống không bao nhiêu, mà cảm giác khi mệt mỏi có người ngồi ăn cùng sẽ thấy bớt cô đơn hơn nửa đêm ngồi ăn uống một mình. Nhờ Tuyết và mọi người trong kí túc VUB mà tôi mới vượt qua 5 tháng căng thẳng chỉ muốn bỏ cuộc khi làm thesis, đã có lúc tưởng phát điên rồi. Giờ thì chị gái đã ở Pháp, thằng em về VN.

Đó là khoảng thời gian ở cùng phòng với Đức, rồi nguyên một kì ăn cơm cùng cả anh Hiếu. Lần đầu tiên biết thế nào là share phòng, là roommate, rồi học cách dọn dẹp, nấu ăn các kiểu. Từ hai đứa chỉ biết nhau là học cùng lớp Đại học, giờ thân hơn. Ngày xưa thấy “sợ” mức độ siêu nhân của Đức, giờ vẫn siêu nhân nhưng bớt sợ dần rồi. Ông anh Hiều thì tốt tính, thằng em nhờ gì cũng giúp tuốt. Càng đến lúc gần về, ba anh em lại thân hơn, bia bọt cũng nhiều hơn. Cũng vài lần đi uống bia, nửa đêm ra ngồi ở Grand Place nói đủ mọi thứ chuyện trên đời đến tận 3h, 3 rưỡi sáng mới mò về. Về VN, không còn Grand Place, không còn bia ngon, và không còn là sinh viên để có thể ngồi với nhau như trước đây.

Đó là hội BBB khi qua năm 2 biết thêm Ngân, Phương, Hường, Linh, Lan Anh. Cái tên thật của hội thì đậm mùi xôi thịt (Bún bò Brussels), mỗi người là một mảnh ghép, cá tính khác biệt rõ ràng, nhưng cùng chung một đam mê ăn uống và quẩy (bia và bar). Rồi còn văn hóa sinh nhật nữa. Hôm cầm tấm thiệp chúc mừng sinh nhật và cả món quà sinh nhật không-hề-tưởng-tượng-ra mà bị đơ mất vài giây. Một nửa của BBB đã rời Bỉ, không biết bao giờ BBB sẽ đông đủ mọi người tụ tập nữa.

Đó là một năm sống một mình. Mặc dù vẫn ở cùng gia đình hai bác, nhưng một mình một tầng hầm. Lúc vui vẻ thì bật nhạc tưng bừng, lúc mệt mỏi thì ngấm dần cảm giác cô đơn, nhất là vào mùa đông. Lúc đó rình được mấy đứa bạn cùng múi giờ đang rảnh là có khi gọi điện nói chuyện vài tiếng đồng hồ. Trải qua những lúc như thế để hiểu và biết rằng dù sống ở đâu, hãy tìm cho mình một vài người bạn bè thân thiết bên cạnh.

Đó là Brussels, nơi tôi bắt đầu hành trình những chuyến đi khám phá châu Âu, nơi tôi trở về sau mỗi chuyến đi, cảm giác nhìn Brussels thấy bình yên lạ lùng. Đây là nơi tôi đi lang thang nhiều nhất, bất kể ngày hay nửa đêm. Đây là nơi, là khoảng thời gian cho tôi được sống thoải mái nhất, đúng nghĩa nhất với những thứ mình nghĩ về cuộc sống. Tôi đặt ra rất nhiều dự định sẽ làm khi qua đây, và đến giờ đã thực hiện được gần hết. Thế nên càng có nhiều kỉ niệm, tôi thêm gắn bó hơn với xứ Bỉ, với châu Âu này.

Tôi đã có một gia đình lớn với những người thân mới, và một nơi gọi là nhà thứ hai ở đây. Vậy nên chào tạm biệt nó thật sự rất khó. Rời Hà Nội, tôi biết tôi sẽ trở về sau 2 năm. Rời châu Âu, tôi chỉ biết nói rằng: rồi tôi sẽ quay trở lại đây một ngày nào đó.

Đi đi nếu có thể

Bố mẹ, rồi anh chị và cả bạn bè tôi hỏi rất nhiều lần câu: lại đi 1 mình ah? đi thế không chán sao? đi thế có an toàn không?

Gần đây tôi bắt đầu đi những chuyến đi có một mình theo phong cách solo-traveller. Trước đây tôi sợ cảm giác đi du lịch một mình, vì nghĩ đi du lịch có bạn bè đi cùng mới vui. Rồi tôi thử đi một mình một chuyến và từ đó tôi thích những chuyến đi solo.

Vì tôi không còn phải chạy cố sống cố chết đến hết những địa điểm du lịch. Tôi cứ thong thả đi, vẫn có plan trước đó, nhưng mệt thì nghỉ, thích thì tạt ngang tạt ngửa vô tư, thời gian linh hoạt thoải mái.

Vì tôi có thời gian để quan sát và lắng nghe nhiều hơn. Đi không phải là để chụp ảnh, để check-in, mà tôi còn quan sát con người và cuộc sống. Tôi vốn không thích những bảo tàng, nhưng rất thích vào những bảo tàng dành cho tụi trẻ con, vì tôi từng quan sát thấy nhiều cha mẹ cho con đi bảo tàng, và dạy chúng rất nhiều điều từ đó. Tôi nghe (trộm) cách họ giải thích cho con của họ, và ghi nhớ lại. Không biết ở Việt Nam mình có gia đình nào như vậy không nhỉ. Và nhờ đi một mình, tôi có thời gian riêng để ngồi ngâm nga trong những cái bảo tàng rộng lớn mình yêu thích.

Vì tôi buộc phải nói tiếng Anh. Không có bạn bè Việt đi cùng, tiếng Anh là thứ duy nhất kết nối tôi với mọi người. Đến thời điểm này, phản xạ tiếng Anh giao tiếp của tôi đã nhạy hơn trước kia, dù kĩ năng nói vẫn lởm vô cùng. Những người tôi gặp trong các chuyến đi thường là những solo-travellers như tôi, nên nói chuyện về du lịch khoái lắm, ngoài ra thỉnh thoảng còn gặp được người dân địa phương, được nghe họ kể về cuộc sống ở nơi mình đến. Một cuộc nói chuyện ngắn ngủi nhưng bao trọn hết cả quyển cẩm nang du lịch của thành phố luôn.

Vì tôi tự lo mọi thứ từ A đến Z. Tự lên kế hoạch, tự tính toán chi phí, đặt vé các kiểu, đọc về nơi đến. Một chuyến đi có vài ba ngày nhưng lên plan chắc trước cả tháng để làm dần dần. Vì là “time-rich and cash-poor traveller” nên việc tính toán chi phí là thứ đau đầu nhất. Hồi ở VN, tôi hầu như chẳng đi du lịch mấy, không có ý niệm gì về mấy cái này, nhưng rồi sang đây phải tự làm để đi, rồi có sẵn backup plans vì đi một mình. Nhiều lúc cũng nghĩ chắc bản thân nghiện đi du lịch quá hay sao mà đi không biết chán, không biết mệt.

Vì sau mỗi chuyến đi là những trải nghiệm quý giá mà không sách vở nào ghi lại được. Các cụ dạy đúng: đi một ngày đàng, học một sàng khôn.

Đi đi nếu có thể, quan sát nhiều hơn, lắng nghe nhiều hơn để thấy bất cứ điều gì xung quanh đều đáng để học và ghi nhớ.

Thung lũng sông Loire: thế giới của các lâu đài cổ

Tôi vô tình đọc về thung lũng sông Loire, thế giới của hàng trăm lâu đài cổ ở đây. Vậy là bắt đầu nghĩ đến kế hoạch khám giá một mảnh ghép trong giấc mơ châu Âu của mình.

Tôi có 2 ngày cho chuyến đi này. Thung lũng này quá lớn, và để khám phá được hết nó thì phải mất hàng tháng trời, vậy nên chỉ có thể chọn một vài trong số hàng trăm lâu đài ở đây. Ngày thứ nhất tôi ở Tours, một thành phố thuộc vùng thung lũng này, và ngày thứ 2 là để khám phá các lâu đài.

DSC_0204

Tòa thị chính của Tours, Hôtel de ville

Ngồi trên ô tô lơ mơ ngủ, thỉnh thoảng gục đầu cái rộp liền tỉnh, nhìn qua cửa kính thấy lờ mờ bình minh, cùng màu xanh của cây, và dòng sông Loire êm đềm. Con sông này vốn không êm đềm lắm, nhưng có lẽ đang vào mùa cạn nên Loire trở nên dịu dàng hơn, không hùng hổ như sông Hồng ở nhà. Đến lúc tỉnh ngủ thì trời đã sáng hẳn, và Tours hiện ra thật đẹp và bình yên, chìm trong màu xanh của cây. Bữa sáng nhẹ nhàng với một chiếc bánh sừng bò và miếng bánh baguette. Tôi không rành lắm về các loại bánh, thế mà lần này ăn bánh baguette phải công nhận là ngon. Hôm sau ăn bánh baguette ở Amboise còn ngon hơn, có lẽ cho ngồi gặm không thì bao nhiêu cũng hết.

DSC_0215

Con phố vắng lặng ở Tours

Tours mang một vẻ đẹp nhẹ nhàng, thanh bình rất Pháp. Thành phố rất sạch, không khí trong lành và người dân rất thân thiện. Lang thang ở Tours sẽ thấy nó vừa đông đúc nhưng không xô bồ như Paris, nhưng lại bình yên mà không vắng vẻ như miền quê. Hôm tôi ở Tours là thứ 7, khu Old town đông đúc tấp nập người ăn uống, nói chuyện. Một sự đối lập hoàn toàn với sự yên ắng khi ra khỏi khu Old town. Khu Old town đậm chất cổ kính, từ những ngôi nhà nghiêng, có vẻ như sắp ngã ra, pha trộn cả kiểu nhà với những thanh gỗ trên các bức từng như tôi thấy ở Đức. Tours rất thích hợp cho việc nghỉ ngơi cuối tuần với một không gian tươi mát màu cây xanh.

Cây cầu bắc qua sông Loire, nối khu Oldtown với bên kia sông

Cây cầu bắc qua sông Loire, nối khu Oldtown với bên kia sông

Ngày hôm sau dành cho các lâu đài. Bắt đầu là Château d’Amboise ở thành phố Amboise. Đây là nơi Leonardo da Vinci ở những ngày cuối đời trong thời gian làm việc cho vua Francois. Amboise là một lâu đài nhỏ, vì tôi đang mong đợi sẽ nhìn thấy những lâu đài hoành tráng, nằm gọn trong một khuôn viên ngay sát bờ sông Loire. Từ trên Amboise có thể phóng tầm mắt nhìn toàn bộ thành phố Amboise và con sông Loire. Khu vườn của Amboise được chăm sóc khá cẩn thận, làm tổng thể Amboise trở thành một hình ảnh mẫu cho những lâu đài trung cổ.

Château d'Amboise

Château d’Amboise

Từ Amboise đi bộ khoảng 400m là đến Château du Clos Lucé và khu vườn Leonardo da Vinci. Lâu đài Clos Lucé khá nhỏ, không có gì hành tráng, nhưng đây là nơi làm việc chính của Leonardo da Vinci, nơi ông nghĩ ra nhiều phát minh ấn tượng. Tầng trệt của khu lâu đài là bảo tàng nhỏ, nơi mô tả những phát minh chính của ông: nguyên mẫu trực thăng, dù, xe tăng, hệ thống bơm nước lên cao, … Trước đây tôi chỉ biết Leonardo là họa sĩ, nhưng giờ biết thêm ông có tới 17 nghề khác nhau: kĩ sư, kiến trúc sư, … Từ Clos Lucé có một đường hầm nối thẳng đến Amboise để vua Francois và Leonardo có thể tiện trao đổi công việc. Bên cạnh lâu đài là khu vườn, nơi trưng bày bản prototype của các phát minh của ông. Trong đó có một cái rất ấn tượng là những bức tranh của Leonardo được trưng bày dưới dạng double-exposed với nền cây xanh. Nàng Mona Lisa trông rất khác lạ ở đây.

DSC_0442

Lâu đài tiếp theo, được mệnh danh là lâu đài của các quý bà: Château de Chenonceau. Ấn tượng đầu tiên là khu khuôn viên rộng với 2 khu vườn theo hai phong cách khác hoàn toàn nhau. Còn lâu đài Chenonceau thì có một thiết kế đặc biệt, bắc ngang qua sông Cher, phụ lưu của sông Loire như một cây cầu. Hai phía của Chenonceau là hai khu vườn được thiết kế hoàn toàn khác nhau. Một bên là dành cho hoàng hậu của vua Henri II, một bên là dành cho người tình của ông. Toàn cảnh dòng sông Cher với hai cánh rừng hai bên, cùng hai khu vườn và một mê cung có thể dễ dàng quan sát từ ban công trên lâu đài. Chenonceau không nằm ở vị trí cao như Amboise nhưng bao quát một tầm nhìn rộng và hoàn toàn chìm vào màu của cây và hoa. Chenonceau đúng như một quý bà, đẹp kiêu sa, bí ẩn và ẩn mình trong lớp áo xanh và hoa sặc sỡ kia.

Château de Chenonceau

Château de Chenonceau

DSC_0570

Từ Chenonceau, đi hơn 60 km nữa là đến vua của các lâu đài: Château de Chambord. Chambord được mệnh danh là vua của các lâu đài bởi sự hùng vĩ của nó. Tôi luôn mong chờ được đi trong một lâu đài với trần cao vút, những căn phòng rộng lớn, những hành lang chạy dài và vô số những tòa tháp. Những điều đó tôi tìm thấy ở Chambord. Ngoài sự hoành tráng của Chambord, Chambord còn sở hữu một công trình đặc biệt của Leonardo da Vinci là cầu thang kép. Cầu thang kép nằm ở chính giữa lâu đài, gồm hai luồng lên xuống xoắn như chuỗi DNA, nên hai dòng người lên và xuống sẽ không bao giờ gặp nhau, và cũng khó nhận ra là họ lên ở một đường và xuống một đường khác. Một điều nữa khiến tôi ấn tượng ở Chambord là hệ thống tháp và hành lang, từ đó có thể phóng tầm mắt ra xa ngút ngàn. Rời Chambord cũng là cuối ngày, tôi ghé vào cửa hàng bánh ở đây, chọn được cho mình hộp bánh nho và rượu rum. Sau bánh baguette ở Amboise, bánh ở đây khiến tôi ngạc nhiên vì rất ngon. Sau mới biết là khu vực sông Loire còn nổi tiếng với các sản phẩm handmade, thứ tôi thấy bày bán rất nhiều ở những lâu đài đã đi qua bên cạnh mấy đồ lưu niệm made in China.

Château de Chambord

Château de Chambord

DSC_0588

Chambord kết thúc chuỗi khám phá lâu đài sông Loire của tôi. 1 ngày đi 4 lâu đài là quá nhiều, vì như Chambord tôi chỉ có khoảng 30 phút trước khi nó đóng cửa. Dù gì thì được nhìn tận mắt thấy nó đã là một điều đáng nhớ rồi. Thật sự là rất may mắn vì tôi thực hiện được dream trip này. Chuyến đi gói gọn trong 2 ngày cuối tuần nhưng lại là một chuyến đi không thể quên, một mảnh ghép lớn trong European trip của tôi.

Hãy ghé thăm Loire để chìm mình vào châu Âu từ thời Trung cổ.

Loire, 7.2015

[Me and Brussels] Những ngày gần cuối

Đi tiếp nào

Bài viết này nằm ở phần kết của series “Me and Brussels” dành những ngày cuối của chuyến đi châu Âu kéo dài 2 năm.

Mới cách đây có 3 tuần, tôi còn vật vã trong những ngày TỒN TẠI để làm cho xong cái thesis, sáng 10h lên lab, tối 9h mò về, ăn xong lăn vật ra làm tiếp đến nửa đêm. Bận rộn, stress cao độ, thêm những cái áp lực từ ông giáo, tôi tưởng mình phát điên. Rồi nó cũng trôi qua.

Bây giờ tôi cũng bận không kém gì 3 tuần trước, chỉ là là tôi đang SỐNG. Đấy là điều khác biệt lớn nhất vì không còn stress, vì vừa chơi vừa làm việc được. Tôi làm những việc tôi thích.

Tôi bắt đầu thử apply việc bên này. Thời điểm này apply là khá muộn rồi vì chỉ còn 2 tháng nữa là về, tuy nhiên cứ thử thôi, thử tìm cơ hội để sau này không còn gì phải tiếc cả. Đằng sau nó còn là một vài câu chuyện mà tôi sẽ viết riêng về nó.

Tôi có kha khá những cuộc gặp gỡ đầy thú vị với cả những người bạn tây và Việt Nam. Đa phần đều ngồi nói chuyện từ tối đến nửa đêm, về đủ mọi chủ đề như chính trị, văn hóa, đến cả những vấn đề trong cuộc sống cá nhân. Nó giống như bạn đọc page Human of New York, mỗi bức ảnh là một câu chuyện, thì ở đây mỗi người là một câu chuyện, nó mở rộng sự hiểu biết, khả năng lắng nghe, chia sẻ của tôi. Chính điều này khiến tôi nghĩ đến một chuỗi bài viết mới sau khi kết thúc series “Me and Brussels” này.

Tôi ngồi học một tẹo tiếng Pháp. Lúc nào rảnh lại mở Duolingo ra học mấy cái cơ bản. Gọi là biết vài từ tiếng Pháp, chứ nhiều lúc nghĩ cũng xấu hổ, 2 năm trời ở đây không nói nổi một câu tiếng Pháp nào.

Sau học tiếng Pháp là bắt đầu tìm hiểu nhiều hơn về EU. Nhớ lại hôm thi môn EU governance, ông thày có vẻ rất vui khi tôi nói: tôi đang sống ở châu Âu nên tôi chọn học môn này để tìm hiểu nhiều hơn về nơi này. Tôi lôi hết cái đống giới thiệu về EU lấy được hôm Open day ra ngâm cứu. Nó khá cơ bản, nên đọc cũng dễ hiểu dễ nhớ. Như tối nay ngồi nói chuyện với một cô bạn về EU, về Âu châu mà có khi nói đến sáng mai cũng không hết được. Càng lúc tôi càng quan tâm hơn tới chuyện chính trị, kinh tế, văn hóa ở Âu châu. Lúc nào trong đầu tôi cũng có suy nghĩ: mình sống ở trung tâm của châu Âu mà không biết gì về nó là sao! Đây là cảm giác thèm được nghe, được học, khác hoàn toàn với việc phải học, phải đọc như hồi làm thesis.

Ẩm thực. Bên cạnh văn hóa sinh hoạt thì ẩm thực châu Âu là thứ tôi rất quan tâm. Đến giờ thì tôi vẫn chưa làm được một món châu Âu nào chuẩn cả, mà toàn pha trộn Âu-Việt, gọi là kiểu phá cách ngẫu hứng. Rất mừng là các món đã làm đều là ăn được (eat-able) và không thấy có vấn đề gì, nhưng cần cải thiện về mặt trình bày. Thế nên đợt này tôi ra quyết tâm làm mấy món châu Âu hoàn chỉnh.

Lên kế hoạch đi du lịch. Đây là thứ lên trình rất nhiều sau những chuyến đi bên này. Mỗi chuyến đi tôi đều có một mục đích riêng, nên kế hoạch cũng được thiết kế riêng. Và nó là một công việc tốn thời gian, chục ngày chứ không ít, vì phải đọc khá nhiều về cách đi lại, chỗ ở, rồi cả những thứ sẽ làm ở đó. Nhất là những chuyến đi sắp tới, khi budget bị hạn chế thì càng đau đầu hơn. Về cơ bản thì nó không khác gì việc trước tôi làm sự kiện: chi tiêu ra sao, timeline thế nào, tối ưu lịch trình, tính toán rủi ro, bla bla bla. Tự tin nhất hiện tại là tư vấn tour đi quanh Brussels hay Bỉ.

Đây là những ngày sống bận rộn nhưng rất ý nghĩa vì tôi được làm những thứ tôi thích, và tất cả chúng đều không liên quan gì đến chuyên ngành Computer Science. Vì đó là cuộc sống, có rất nhiều thứ đáng để đi, để lắng nghe, để học; và chẳng có một thứ gì học được là thừa cả.