Đi săn ở Penang

Ban đầu tôi nghĩ tên bài viết sẽ là “All about Penang” bởi tôi có nhiều trải nghiệm thú vị ở hòn đảo ngọc của Malaysia nổi tiếng với Geogre Town – Di sản thế giới được UNESCO công nhận. Tuy nhiên chuyến đi ngắn ngủi 2 ngày cuối tuần chưa thể mang đến tất cả nên tôi sẽ gọi chuyến đi này là “Đi săn ở Penang”. Trong hai ngày cuối tuần, tôi rong ruổi đi săn tranh đường phố ở Geogre Town, đi săn những công trình kiến trúc Á Âu và hơn hết là săn ẩm thực đường phố tại thiên đường Penang.

Đi săn tranh đường phố ở Geogre Town

Sau khi Geogre Town được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa, chính quyền nơi đây đã quyết định thổi thêm không khí nghệ thuật vào khu di sản này nhằm mang đến trải nghiệm thú vị khi khám phá thành phố cổ. Vì vậy những bức tranh dầu và tranh thép ra đời, đặt ngay ở những bức tường ngóc ngách trong Geogre Town. Nếu những bức tranh dầu mô tả một cách nghệ thuật về cuộc sống thì những bức tranh thép (được tạo bằng khung thép đặt trên nền tường) lại là những sự thật thú vị về con người nơi đây theo phong cách truyện tranh. Khi tới đây bạn sẽ không bất ngờ khi nhiều người lăm lăm trên tay tấm bản đồ đánh dấu những bức tranh nghệ thuật cần tìm kiếm. Khi bắt gặp một bức tranh sẽ là muôn kiểu tạo dáng chụp ảnh đánh dấu đã săn được thêm “một chú cá lớn”. Sau một hồi đi săn theo bản đồ, tôi quyết định đi tự do, lạc một xíu nhưng thật thú vị khi phát hiện ra thêm những bức tranh lớn nhỏ ẩn mình đâu đó trong từng góc phố.

IMG_20170918_193933_603.jpg

Tranh dầu

IMG_20170918_193933_605.jpg

IMG_20170918_193933_606.jpg

IMG_20170919_170521_811.jpg

20170916_110502(0)-02.jpeg

Tranh khung thép

20170916_130200-02.jpeg

 

20170916_160527-01.jpeg

Đi săn những công trình kiến trúc Á Âu

Hòn đảo ngọc Penang từ xưa đã có nhiều dân tộc tới đây sinh sống gồm người Hoa, người Mã Lai và người Ấn. Và đến thời kì thuộc địa Anh thì nền văn hóa Âu châu bắt đầu du nhập. Vậy nên trong hành trình đi săn tranh đường phố, tôi không thể bỏ qua kiến trúc nơi đây. Mà tôi nghĩ đây chính là mục đích của tranh đường phố. Văn hóa Trung Hoa là những ngôi nhà nhỏ trong khu khố người Hoa, là nhà thờ dòng họ Khoo, là những ngôi chùa Phật phảng phất mùi nhang. Rời khỏi khu Hoa sẽ dẫn tới khu tiểu Ấn (Little India) với những gian hàng thực phẩm nhiều màu sắc, hay dẫn lối tới khu Hồi giáo của người Mã.

20170916_111844-01.jpeg

Nhà thờ dòng họ Khoo

20170916_105542-01.jpeg

Ngôi chùa nhỏ trong Geogre Town

Ra khỏi khu trung tâm Geogre Town là khu bến cảng nổi tiếng với những ngôi nhà nổi trên mặt nước  của các gia tộc gốc Hoa (jetty clan) xây dựng và sinh sống nhiều đời. Jetty Chew nổi tiếng đông đúc với nhiều hàng quán và khách du lịch thì Jetty Tan hay Jetty Lee lại vắng vẻ hơn, mang đến hình ảnh cuộc sống thường nhật của người dân. Tôi không hề biết là có tới 6 Jetty clans sau khi trở về và tìm hiểu thêm.

20170916_115601-01.jpeg

Jetty Lee – một trong 6 Jetty Clans còn lại

Rời khu bến cảng Jetty sẽ dẫn tôi tới con phố đậm chất kiến trúc thuộc địa Anh. Những tòa nhà sừng sững, những bức tường lớn mà tôi cứ nghĩ mình đang đi dạo ở một con phố Âu châu nào đó ngày xưa. Phía cuối con đường đó là ngọn tháp đồng hồ tưởng nhớ nữ hoàng Victoria cùng pháo đài Fort Cornwallis xây dựng trong thời kì thuộc địa.

Để ngắm nhìn đảo ngọc Penang từ trên cao thì không nơi nào hợp lý hơn ngọn đồi Penang (Penang Hill). Từ đó cũng chỉ mất vài phút taxi để thăm ngôi chùa Phật giáo Kek Lok Si lớn nhất ở Malaysia với bức tượng đồng Phật bà Quan Âm (Kuan Yin) cao gần 40m.

20170916_135714-01.jpeg

Tòa nhà cổ theo lối kiến trúc châu Âu

20170916_153500-01.jpeg

Tòa thị chính cũ cũng theo lối kiến trúc châu Âu

IMG_20170925_191747_505.jpg

Pháo đài Fort Cornwallis

20170916_180336-01.jpeg

Biển Penang

Tự sướng trên đỉnh đồi Penang

Đi săn món ăn đường phố ở Penang

Penang là thiên đường ẩm thực đường phố thật không sai. Khi đang viết những dòng này, tôi nhớ lại những món ăn ở đó mà cồn cào bụng dạ. Những món ăn ở Penang tôi thử khá ngon và dễ ăn bởi không quá ngấy hoặc quá nồng. Bạn chủ nhà tôi thuê cho tôi hẳn một tấm bản đồ nên ăn gì, ăn ở đâu, ăn lúc nào. Và tất nhiên hai ngày không thể đủ cho tôi ăn hết những món ngon ở đây dù đã ăn tới 5 bữa trong ngày. Hành trình đi săn món ăn đường phố bắt đầu với món phở xào char koay kak và char kway toew, asam laksa (gồm bún, nước dùng nấu từ cá, dứa, rau cải và hành củ), oyster omelette (hàu non chiên bột) hay dim sum trong một quán nổi tiếng. Tránh miệng với nước quả nutmeg (nhục đậu khấu), món chè chendol ngọt lịm mát lạnh hay bánh su kem sầu riêng. Nếu tìm một lý do để khiến tôi quay lại Penang thì chắc chắn đó là đồ ăn nơi đây.

Tình yêu với đồ ăn khiến tôi không thể bỏ qua bảo tàng đồ ăn để tìm hiểu về sự đa dạng của thiên đường ẩm thực Penang. Thật may mắn khi tôi gặp một cô bé người bản địa hướng dẫn trong bảo tàng và ngồi nói chuyện gần nửa tiếng chỉ về đồ ăn ở Penang.

20170916_102006-01.jpeg

Asam Laksa

20170916_103811-01.jpeg

Chè Chendol

20170917_133040-01.jpeg

Phở xào Char koay toew

20170916_122709-01.jpeg

Su kem sầu riêng: thơm, béo, ngậy với mùi sầu riêng đặc trưng

Đi săn một mình

Penang trở thành chuyến đi một mình tiếp theo của tôi. Đi một mình không tệ nếu không muốn nói đến là vô cùng thú vị khi mà tự do đi lạc trong Geogre Town, rồi bất kể lúc nào đói mở bản đồ đồ ăn ra là biết có ngay hàng ăn quanh đây. Và khi ngồi ăn, tôi lại có dịp trò chuyện với những người bản địa nơi đây, để lắng nghe câu chuyện của họ. Trò chuyện luôn là một phần thú vị trong những chuyến đi một mình như thế này. Hai ngày cho một chuyến đi săn nhỏ với thu hoạch không nhỏ tẹo nào.

Penang, 09.2017

 

Advertisements

Sài Gòn, Anh Yêu Em

Chiều chủ nhật và một mình ra rạp coi “Sài Gòn, anh yêu em”.

Ngay từ khi ra trailer tôi đã biết nhất định sẽ đi coi film này, dù có đi coi một mình vì những người quanh tôi không mấy ai mặn mà với film Việt. Và bộ film không làm tôi thất vọng: đẹp, chỉnh chu và đáng nhớ. Nó làm tôi nhớ về những ngày ở Sài Gòn vừa qua.

Tôi chọn cách khám phá Sài Gòn như cách tôi khám phá châu Âu. Rong ruổi một mình trên từng con phố, quan sát cuộc sống, lắng nghe câu chuyện từ những đang sống ở đây và kể chuyện cho tụi nước ngoài ở cùng hostel.

Sài Gòn là đi bộ đến mỏi cẳng ở trong khu trung tâm quận 1. Nó đủ nhỏ để đi dạo, để quan sát chính cuộc sống và thỉnh thoảng táp vô hàng quán ăn uống.

Sài Gòn là những câu chuyện: khi ngồi trên xe của anh lái GrabBike, nghe câu chuyện về anh lái xe đến từ miền Tây lên đây mưu sinh, nghe anh kể về miền Tây và cuộc sống ở nơi đó. Đó không phải là nơi đến một ngày, chụp ảnh rồi về. Hay câu chuyện của chú taxi về sự khác biệt giữa Sài Gòn và Hà Nội. Và còn cả câu chuyện về một cậu sinh viên với Sài Gòn rất riêng trong tim.

Sài Gòn là như một người Sài Gòn, giới thiệu tùm lum cho tụi ở cùng hostel về Sài  Gòn, về những trải nghiệm của mình ở đây. Có cô em người Hàn Quốc, đam mê ẩm thực Việt Nam, được tôi giới thiệu cho mấy món tôi được thử ở Sài Gòn và giới thiệu luôn đặc sản bún chả nem Hà Nội. Và cậu em người Anh chưa biết gì về Việt Nam và châu Á, cũng được dạy cách dùng đũa rồi cho thử món bún mắm (mà tôi nghĩ chắc phải rất cố gắng mới ăn đuợc chỗ bún đấy). Và chị quản lý hostel siêu thân thiện khiến tôi sẽ quay lại hostel đó khi thăm Sài Gòn.

Tôi vô tìm hiểu Sài Gòn qua những người tôi định gặp để lắng nghe Sài Gòn trong suy nghĩ của họ. Hình ảnh về mảnh đất này trở nên gần gũi, nhẹ nhàng, không cầu kì xa lạ.

Hôm nay trong phòng chiếu phim, tôi cảm thấy như mình đang ở chính Sài Gòn vài tuần trước vậy. Tôi thích cái cách kể chuyện của phim, thích từng góc quay và ngay cả lời thoại, và cả những câu kết trong film. Sài Gòn lớn vậy mà nhỏ lắm, khó lạc nhau lắm, còn yêu thuơng là còn tìm được nhau. Hai mẹ con Mỹ Tuyền – Mỹ Mỹ, cặp tri kỉ chú Sáu- dì Ba, hai tâm hồn tìm thấy nhau Đức – Khánh, tình phụ tử ngắn ngủi giữa chú Sáu và Đức, những câu chuyện kể song song mà gắn kết lại tạo thành một bức tranh về cuộc sống đầy tình yêu. Tôi vốn thấy cải lương rất khó cảm nhưng rồi xem đoạn cải lương trong film mới thấy nó đúng là sinh ra từ chính mảnh đất và con người Nam bộ. Và tôi thích cách thể hiện rất nhẹ nhàng và nhân văn của hai tâm hồn Đức – Khánh. Khoảnh khắc xúc động nhất là lúc đoàn viên của chú Sáu và Đức. Mọi thứ rất tự nhiên và rất thực.

Sài Gòn luôn vội vã nhưng vẫn có chỗ cho những nốt trầm cho tâm hồn. Tôi không biết nếu có bộ film tương tự “Hà Nội, anh yêu em” thì sẽ ra sao vì vốn dĩ Hà Nội đã khác Sài Gòn rồi. Ở Sài Gòn mọi thứ có lẽ sẽ vậy đó.

Còn nhớ lúc trên máy bay trở ra Hà Nội, tôi biết tôi sẽ quay lại nơi đây thêm nữa để tiếp tục tìm hiểu về miền đất này.

Còn yêu thương là còn tìm được nhau 

10.2016

PS: Hôm nay lạ khi cả phòng chiếu hơn 100 ghế mà chỉ có khoảng 10 người coi, suất chiếu lúc 3h chiều ở Lotte Keangnam, nhờ vậy nên rất thoải mái để hoàn toàn cảm nhận film. Không hiểu là do rạp này hết hot hay do film không rầm rộ quảng cáo như bom tấn. Với tôi thì đây là film còn vượt qua Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh, là một bộ film Việt Nam rất đáng xem. Chỉ tiếc là phần nhạc film chưa thực sự hoàn hảo.

 

 

 

 

Đi đi nếu có thể

Bố mẹ, rồi anh chị và cả bạn bè tôi hỏi rất nhiều lần câu: lại đi 1 mình ah? đi thế không chán sao? đi thế có an toàn không?

Gần đây tôi bắt đầu đi những chuyến đi có một mình theo phong cách solo-traveller. Trước đây tôi sợ cảm giác đi du lịch một mình, vì nghĩ đi du lịch có bạn bè đi cùng mới vui. Rồi tôi thử đi một mình một chuyến và từ đó tôi thích những chuyến đi solo.

Vì tôi không còn phải chạy cố sống cố chết đến hết những địa điểm du lịch. Tôi cứ thong thả đi, vẫn có plan trước đó, nhưng mệt thì nghỉ, thích thì tạt ngang tạt ngửa vô tư, thời gian linh hoạt thoải mái.

Vì tôi có thời gian để quan sát và lắng nghe nhiều hơn. Đi không phải là để chụp ảnh, để check-in, mà tôi còn quan sát con người và cuộc sống. Tôi vốn không thích những bảo tàng, nhưng rất thích vào những bảo tàng dành cho tụi trẻ con, vì tôi từng quan sát thấy nhiều cha mẹ cho con đi bảo tàng, và dạy chúng rất nhiều điều từ đó. Tôi nghe (trộm) cách họ giải thích cho con của họ, và ghi nhớ lại. Không biết ở Việt Nam mình có gia đình nào như vậy không nhỉ. Và nhờ đi một mình, tôi có thời gian riêng để ngồi ngâm nga trong những cái bảo tàng rộng lớn mình yêu thích.

Vì tôi buộc phải nói tiếng Anh. Không có bạn bè Việt đi cùng, tiếng Anh là thứ duy nhất kết nối tôi với mọi người. Đến thời điểm này, phản xạ tiếng Anh giao tiếp của tôi đã nhạy hơn trước kia, dù kĩ năng nói vẫn lởm vô cùng. Những người tôi gặp trong các chuyến đi thường là những solo-travellers như tôi, nên nói chuyện về du lịch khoái lắm, ngoài ra thỉnh thoảng còn gặp được người dân địa phương, được nghe họ kể về cuộc sống ở nơi mình đến. Một cuộc nói chuyện ngắn ngủi nhưng bao trọn hết cả quyển cẩm nang du lịch của thành phố luôn.

Vì tôi tự lo mọi thứ từ A đến Z. Tự lên kế hoạch, tự tính toán chi phí, đặt vé các kiểu, đọc về nơi đến. Một chuyến đi có vài ba ngày nhưng lên plan chắc trước cả tháng để làm dần dần. Vì là “time-rich and cash-poor traveller” nên việc tính toán chi phí là thứ đau đầu nhất. Hồi ở VN, tôi hầu như chẳng đi du lịch mấy, không có ý niệm gì về mấy cái này, nhưng rồi sang đây phải tự làm để đi, rồi có sẵn backup plans vì đi một mình. Nhiều lúc cũng nghĩ chắc bản thân nghiện đi du lịch quá hay sao mà đi không biết chán, không biết mệt.

Vì sau mỗi chuyến đi là những trải nghiệm quý giá mà không sách vở nào ghi lại được. Các cụ dạy đúng: đi một ngày đàng, học một sàng khôn.

Đi đi nếu có thể, quan sát nhiều hơn, lắng nghe nhiều hơn để thấy bất cứ điều gì xung quanh đều đáng để học và ghi nhớ.

Lisbon và chuyến đi một mình

Đang ngồi rảnh rang ngắm người qua lại thì bắt gặp đúng cảnh này.

Sau nhiều lần đắn đo, tôi quyết định thực hiện một chuyến đi một mình, một trong những have-to-do-task trong 2 năm bên này. Tất cả các chuyến đi trước của tôi đều luôn có bạn đồng hành, tất nhiên vui và cũng tốt hơn đi một mình. Tuy nhiên tôi rất tò mò về cảm giác đi du lịch một mình nó thế nào, và để hiểu được nó thì cần trải qua nó.

Lý do

Sự tò mò của bản thân chỉ là một nguyên nhân, nguyên nhân lớn hơn chính là tôi muốn làm mới chuyến đi của mình. Những chuyến đi trước tôi đi cùng bạn bè Việt Nam, từ những chuyến tự đi cho đến đi cùng tụi sinh viên tây. Điều phổ biến tôi gặp phải là hội Việt Nam hay đi cùng nhau, và khá rụt rè trong việc giao lưu với tụi tây, dẫn đến việc dùng tiếng Việt nhiều hơn tiếng Anh. Và đó là lý do chính để tôi xách vali lên và đi một mình. Không có bạn Việt Nam nào thì thứ ngôn ngữ mình có thể dùng là tiếng anh và tay chân. Vừa đi chơi mà tranh thủ luyện phản xạ tiếng Anh tệ hại của mình luôn.

Địa điểm

Lisbon, Bồ Đào Nha. Lisbon vốn không có gì ấn tượng trong tôi, có chăng đi thì nó là điểm cuối sau khi đi Tây Ban Nha. Tôi đặt vé khá sát ngày đi, mấy nơi muốn đi thì vé đắt quá, nên chọn Lisbon để đi, sau khi nghe chị bạn thân ca ngợi về nó. Chỉ nghe đến được ăn hải sản thoải mái là đủ để chọn Lisbon rồi.

Và sau chuyến đi:

Phải gọi rằng chuyến đi tuyệt vời.

Về Lisbon, thì Lisbon thật sự đẹp. Có lẽ vì tôi không có high expectation với nó nên mọi thứ trước mắt rất lạ lẫm và đẹp. Một thành phố cảng không lung linh nhưng náo nhiệt, và người dân thân thiện khiến tôi muốn quay trở lại Lisbon lần nữa. Thật khó để mô tả Lisbon vì nó không có nhiều địa điểm nổi tiếng nhưng khi đến đó rồi, nhìn thấy cuộc sống ở đó thì sẽ thấy nó đẹp.

Khác với những chuyến đi trước đó, tôi kéo dài thời gian ở Lisbon để thong thả đi chơi. Mà cũng đi một mình nên thích đi đâu thì đi, thích ngồi nghỉ ở đâu thì nghỉ. Lịch trình được lên vào tối hôm trước, đến sáng hôm sau có khi sẵn sàng thay đổi. Tôi có sở thích hay đi lang thang để bị lạc, đi không cần biết điểm đến, chỉ đến thấy mệt cần về thì mới mở bản đồ ra tìm đường về. Vậy nên trong suốt thời gian ở Lisbon, tôi đi bộ khá nhiều, đi hết khu trung tâm Lisbon thì chuyển qua đi lạc sâu vào bên trong khu Alfama. Mọi thứ không hào nhoáng, tấp nập như khu downtown mà đẹp một cách bình yên, có những đoạn đi còn rờn rợn vì chẳng có ai ngoài đường cả. Biết là châu Âu an toàn, nhưng vẫn hơi rợn. Một cảm giác rất là thú vị.

Đạt được mục tiêu đề ra

Tôi quen được hai người bạn mới ở trong cùng hostel. Một cậu nhóc 20t người Úc tên là Tim và một cô bé 22t người Hàn, tên Hansol. Sau tiết mục chào xã giao vì cùng phòng dorm, Tim rủ tụi tôi đi kiếm quán bar vì đến giờ quẩy đêm rồi. Bất ngờ là cả Tim và Hansol đều không thích club ồn ào, chọn bar mà phải là non-smoking, OMG giống tôi, công nhận hai đứa ngoan thiệt. Đúng là có tí bia vào mới khiến tụi tôi cởi mở nói chuyện thoải mái hơn. Tôi quyết định rủ cả hai đi Sintra ngày hôm sau, thay vì kế hoạch solo trước đó. Ngày đi Sintra đó đáng nhớ bởi chính sự đỏng đảnh của thời tiết ở Lisbon hôm đó khiến chúng tôi trải quả từ nắng đẹp đến mưa rào, rồi gió giật ầm ầm, rét run cầm cập. Chuyến đi Sintra đầy gian nan để lại nhiều kỉ niệm đáng nhớ thay vì một vài bức-ảnh-chụp-phong-cảnh-đẹp-gần-bằng-postcard. Chúng tôi buôn mọi thứ chuyện, từ việc ngồi phân tích văn hóa, ẩm thực, con người Việt, Hàn cho Úc, rồi đến cả chuyện bạn bè, cuộc sống thường ngày.

Đêm cuối ở hostel tôi còn được bữa trà nóng chém gió với những người bạn trong cùng hostel: một cô bạn Đức, một cô bạn Nhật và một cậu bạn Úc. Tiếng Anh lởm khởm, nhưng sau chuyến đi Sintra thần thánh thì phản xạ đã nhạy hơn nên dù lởm vẫn chém tơi bời. Một phần là hostel tôi ở nó bé tí, đi lại là đập mặt mọi người nên rất dễ để nói chuyện với mọi người.

Kết lại là tôi thấy tụi tây rất dễ nói chuyện, trừ tụi Ổi ra, để thân thì khó chứ bạn bè bình thường thì ok. Nhờ đó mình hiểu hơn về cách suy nghĩ, cách sống thường ngày của tụi tây, để trả lời câu hỏi vì sao phương Tây được coi là văn minh hơn so với nhà mình.